Giới thiệu về công nghệ thuộc da (P1)

bài viết giới thiệu về các loại da thuộc chúng ta đã được tìm hiu nhng chiếc túi xách, dây lưng, ví da được làm t cht liu da thuc, và ch có da tht mi mang giá tr tht cho thi trang đ da. Tiếp theo lot bài v kiến thc da hôm nay mình s gii thiu vi các bn v công ngh thuc da ( hay cách sn xut da thuc).

Để tạo ra da thuộc phải qua giai đoạn sơ chế chuẩn bị cho tấm da sạch, mềm, và dễ thẩm thấu các chất hóa học hay tự nhiên sẽ được sử dụng để biến tấm da sống thành da thuộc để dùng trong thời trang, may mặc, và các ngành công nghiệp khác. Trước tiên, da được lóc cẩn thận khỏi các thớ thịt và mỡ, rồi được phân loại cẩn thận theo chủng loại da và chất lượng. Sau đó da được ngâm để giũ sạch các chất bẩn. Tiếp theo, 1 loại vôi nước được sử dụng để tẩy lông đồng thời loại bỏ 1 số chất đạm, sợi trong da và thay đổi ít nhiều cấu trúc của da để da sẽ thẩm thấu tốt hơn những hóa chất sẽ được sử dụng trong công đoạn kế tiếp. Tùy theo nơi sản xuất, các chất hóa học hay các chiết xuất từ thiên nhiên sẽ được sử dụng để làm da mềm hơn, dai bền hơn, chống thấm nước tốt hơn, và giữ không bị thối rữa theo thời gian. Tiếp theo, da được phơi ráo nước, bôi dầu, phơi khô, nhào cho mềm và đều dầu, cán phẳng, và nhuộm màu theo nhu cầu.

* Nguyên liệu sản xuất.

Da nguyên liệu dùng trong công nghiệp sản xuất thuộc da là các loại da động vật như: trâu, bò, lợn, cừu, dê, ngựa. ngoài ra còn sử dụng các loại da động vật quy hiếm như: hươu, nai, hổ, cá sấu, trăn, rắn, … nhưng số lượng không lớn.

* Cấu tạo da sống.

Trong công nghiệp thuộc da, việc chia diện tích trên một tấm da được quy định theo các vùng như sau:

1. Phần mông lưng

2. Phần đầu vai

3. Phần bụng

Phần mông lưng: là phần trung tâm của da, chiếm 50-60% diện tích con da. Phần này các chùm sợi ở lớp mạng lưới sắp xếp chặt chẽ, có độ bền cơ học cao, đây là phần chất lượng nhất trong toàn bộ tấm da.

Phần đầu vai: độ bền cơ lí thấp do các chùm sợi phát triển yếu, cấu tạo lỏng lẻo. 
Phần bụng: là phần biên của con da, các chùm sợi colagen mảnh mai sắp xếp lỏng lẻo và gần như song song với bề mặt vì vậy tính chất xơ lí kém thua phần mông lưng và phần đầu vai.

Thành phần hoá học chính của da sống là: nước, protit, mỡ, chất khoáng, một lượng nhỏ men và sắc tố. Hàm lượng các chất trong thành phần do thường không cố định mà biến đổi theo giống, tuổi, loài, điều kiện sinh trưởng của con vật và từng vị trí trên diện tích da.

- Nước trong da tươi chiếm khoảng 60-70% và tồn tại dưới hai dạng là: mước tự do nằm xen kẽ trong các sợi da ( chiếm 60% lượng nước trong da); nước kết hợp nằm trong cấu trúc của da khó thay đổi được.

- Protit: là thành phần cơ bản của da. Trong da sống đã sấy khô, ptotit chiếm khoảng 95% trọng lượng da. Protit tồn tại dưới hai dạng: Protit không có cấu trúc dạng sợi như anbunia, globulin, muxin và mucoit; Protit có cấu trúc dạng sợi như collagen.

Trong quá trình thuộc da, nhiều protit không có cấu trúc dạng sợi và Karetin được loại bỏ hoàn toàn.

*  Bảo quản nguyên liệu.

Thông thường các loại da tươi này trước khi đưa vào thuộc phải được bảo quản cẩn thận vì các lò mổ, các điểm giết mổ không thể cung cấp một cách đều đặn, thường xuyên lượng da lớn cho các nhà máy thuộc da, mặt khác thường quy định trong một lô da xuất thuộc phải có đồng đều về chủng loại, trọng lượng, chất lượng và phương pháp bảo quản sau khi giết mổ.

Mục đích của bảo quản là loại bỏ sự phá hoại của các vi khuẩn hoặc hạn chếchúng. Có thể thực hiện bằng cách giảm lượng nước trong da, hoặc hạ thấp độ pH đến giá trị pH của axit mạnh và cũng có thể thực hiện qua việc hạ nhiệt độ xuống dưới 0­­­­­ 

* Các phương pháp bảo quản da tươi:
1 .Ướp muối (phương pháp thông dụng nhất).
2. Phơi khô.
3. Ướp muối và phơi khô.
4. Axit hoá.
5. Cho vào phòng lạnh.
+ Bảo quản bằng muối: da tươi được ngâm vào muối hoặc dung dịch muối bão hoà. Sự hấp thụ muối đạt cực đại sau 12 giờ đối với dung dịch muối bão hoà và 24 giờ đối với muối hạt, sau đó là quá trình loại nước ra khỏi da. Trong quá trình này da mất nước và hấp thụ muối, lượng nước mất lớn hơn lượng muối hấp thụ ( với NaCl).

Khi bảo quản bằng muối hạt, trọng lượng giảm: 13-19%.

Khi bảo quản bằng dung dịch muối bão hoà trọng lượng giảm: 9-12%.

Da bảo quản bằng phương pháp dung dịch muối bão hoà ít khuyết tật hơn và định mức da thành phẩm tăng từ 1-2% so với phương pháp muối hạt.

Muối dung ở đây là natri clorua NaCl, nó có khả năng giữ lại khí cacbonic và không cho phép hoà tan trong môi trường dư oxy.

Na+ ngăn sự phát triển của vi khuẩn, còn Ca+ và Mg+ thì ngược lại vì vậy NaCl phải sạch hoặc chứa ít CaSO4 , MgSO4 , FeSO4 và Al2O3 . Ngoài ra có thể thêm chất ngăn cản sự hoạt động của vi khuẩn như axit boric, naftalina, cacbonat natri, bêta maftol, fluosilicat natri.

Da sau khi mổ cần phải được rửa sạch phần máu trên da, phần bản sau đó vắt lên cho ráo nước và muối( muối ở nơi tránh ánh sáng mằt trời trực tiếp hoặc ẩm ướt, phải thoáng mát).

Da được muối trên sàn gỗ hoặc sàn ximăng có độ nghêng 3-50, trải phẳng con da, mặt lông xuống dưới, mặt thịt len trên, sau đó sát muối thật đều và trải con khoác lên trên, độ cao khoảng 5-6 m/mẻ.

Sau 5-7 ngày muối, lượng muối cần dùng là 10-14

Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên