Giới thiệu về công nghệ thuộc da (P2)

* Thuộc da.

Thuộc da là quá trình mà qua đó da trần được chuyển hoá thành da thuộc với những đặc tính tối ưu của nó như chịu nhiệt độ cao, không thối rữa khi tiếp xúc với nước và các môi trường khác, chịu được tác động phá hoại của vi sinh vật và có độ thấu khí cao.

Hoá chất dùng để thuộc là kali bicrômat: K2Cr2O7. Khi thuỷ phân tạo thành muối kiềm crôm:

K2Cr2O7 + 3H2SO4 + R —› K2SO4 + 2CrOHSO4 + RO + H2O

R là chất khử ( gluco hoặc NaS2O4). Phản ứng tạo nên hợp chất hợp chất hyđrôxyt là muối kiềm Crôm, dung dịch mang tính axit. Quá trình thuỷ phân có thể tiếp tục nếu ta cho axit vào dung dịch khi dùng quá trình thuỷ phân và có thể đưa sản phẩm của quá trình thuỷ phân trở về dnạg sunfat crôm.

Các phân tử phức crôm có thể tại nên các phần tử phức lớn hơn, làm cho độ kiềm và tính thuộc biến đổi.


Độ kiềm là mức đo tính thuộc của muối crôm; tăng độ kiềm, tính thuộc và lượng muối Crôm hấp thụ và da tăng, đồng thời cũng tăng nhóm hyđrôxyt liên kết trong phức và làm tăng kích thước phức Crôm trong dung dịch và làm giảm khả năng xuyên của muối crôm vào bên trong da, cho nên ở giai đoạn này dùng dung dịch Crôm có độ bền kiềm thấp tạo khả năng xuyên của chúng vào da sâu hơn.

Các anion khác có thể đi vào phức crôm (các gốc cacboxyl) làm thay đổi tính thuộc, thay đổi thành phần của dung dịch điều chế từ bicromat ít hơn, do nguy hiểm của một số hoá chất như axit cromic đối với sức khoẻ người sản xuất.

Việc dùng tác nhân khử là glucoza hoặc hợp chất hữu cơ khác, tạo nên crôm với nhiều phân tử hữu cơ, tuỳ theo thành phần của chất khử. 
Ở pH thấp hơn, quá trình xuyên của chất thuộc Crôm vào trong da sẽ tốt hơn và nhanh hơn song tính thuộc Crôm kém hơn. Tăng pH, tăng khả năng thuộc và tạo sự liên kết của chúng với các collagen mà không gây dết tủa. Điều quan trọng trong công đoạn nâng kiềm là mức độ năng sao cho tác dụng thuộc đồng đều, phòng ngừa kết tủa Crôm có thể xẩy ra. Natri cacbonat có thể dùng để nâng kiềm, độ kiềm của dung dịch sẽ tăng ở dạng dịch cấp theo bậc thang.

Hiện nay, người ta dùng các tác nhân trung hoà khác nhau, tác dụng nâng kiềm của chúng tăng lên một cách từ từ như: Mentrigan MOG, khoáng đôlômit.

Để tiếp công đoạn sau, ta cần kiểm tra độ xuyên thấu của axit hoá (sau 2 giờ quay), sau khi đạt ta cho: 6-8% Cr2O3 dạng bột, quay 6-8 giờ, thử độ xuyên thấu sau 3-4 giờ, cho tiếp 0,5-1% Mentrigan MOG, quay 1-2 giờ. Thử nhiệt độ và pH.

Đối với da phèn cần dùng chất chống mốc để phòng mốc, thường dùng 0,3-0,5% Preventol WB.

* Hoàn thành da thuộc.

Da sau khi thuộc độ ẩm còn quá cao 60-65%, chưa có độ mềm dẻo cần thiết, bề mặt thô và dễ ngấm nước. Vì thế sau khi thuộc nhất thiết phải qua công đoạn chỉnh lý.

Với các loại da khác nhau, yêu cầu khác nhau trong quá trình chỉnh lý. Tuy nhiên, các loại da sau khi thuộc đều có những khâu cơ bản sau: ủ đống, ép nước, bào mỏng, trung hòa ( đối với da thuộc Crôm), nhuộm ăn dầu, sấy khô, để cho da có độ ẩm là 12-15%, sau đó đem vò mềm, trau chuốt, mục đích làm cho da thuộc đồng đều về mặt màu sắc, khắc phục những khuyết tật trên bề mặt nhằm đáp ứng mục đích sử dụng đa dạng của người tiêu dùng.

Trong công nghiệp thuộc da, quy trình thuộc đóng vai trò quyết định của sản phẩm thì trau chuốt có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với tiêu dùng vì rằng: chỉ tiêu thẩm mĩ của da thuộc crôm với các đồ dùng chế biến từ da được thể hiện chủ yếu ở màu sắc, độ bóng, độ bền nhiệt, bền uốn gập của lớp màng trau chuốt. đặc biệt là lớp màng trau chuốt có vai trò quyết định giá trị của tấm da thuộc khi lưu thông trên thị trường. Vì vậy khi trau chuốt đòi hỏi các nhà công nghệ phải tìm hiểu, nắm bắt thị hiếu của người tiêu dùng, từ đó phân loại, lựa chọn hóa chất, phương pháp trau chuốt cho phù hợp với công dụng từng mặt hàng mà người tiêu dùng đòi hỏi.

Da nguyên liệu có một số khuyết tật hình thành khi con vật còn sống hoặc hình thành qua lột mỏ, khi bảo quản. những khuyết tật mày ảnh hưởng đến chất lượng của da thuộc và da hoàn thành, do đó trước khi trau chuốt phải phân loại da thành 2 loại: loại để nguyên mặt cật ( mặt tự nhiên) và loại phảt cải tạo mặt cật.

Với loại để nguyên mặt cật, sau khi nhuộm ăn dầu được đưa vào trau chuốt. Thành phần trau chuốt bao gồm 2 lớp chính:

+ Lớp cơ sở: chất kết dính là thành phần chính để tạo màng, như chất acrylic butadien, polỷuetan, các chất pigment ( những oxit kim loại) mang màu…, dầu mỡ, dung môi hữu cơ tại màng có độ mềm mại và độ bóng nhất định. Ngoài ra còn có một số hợp chất làm dày khác.

+ Lớp phủ trên cùng: chủ yếu dùng Lacquers, nitroxenlulo, polymetan hòa tan dung môi hữu cơ. các hợp chất trên có thể bôi hoặc phun nhiều lớp, cuối cùng là in ở nhiệt độ cao và áp suất khác nhau, phụ thuộc vào yêu cầu của khách hàng mà công nghệ lựa chọn phương pháp thao tác khác nhau cho phù hợp.

Đối với da phải cải tạo trước khi trau chuốt, phải xử lý bằng phương pháp ngâm tấp và dùng giấy nháp đánh bề mặt, khi ngâm tấp có các hóa chất chủ yếu đó là Encryl và dung môi hữu cơ. Các loại da mặt cất xấu phải qua công đoạn cải tạo bằng phương pháp dùng giấy nháp đánh phớt bề mặt sau đó da được ngâm với dung dịch hóa chất nêu trên nhằm tạo cho da có mặt cật bằng, tiếp đó đem sấy khô và dùng giấy nháp đánh lại để hóa chất trau chuốt bề mặt da đạt được yêu cầu chất lượng tốt hơn.

* Thiết bị

Các thiết bị cần thiết cho qua trình thuộc da là: foulons, máy nạo thịt, máy xẻ, máy bào, máy ép nước, máy ty da, máy vò mềm, máy in, máy đánh nháp, máy đánh bóng, máy sấy chân không. trong đó quan trọng là:

+ Máy nạo thịt: là máy dùng để loại bỏ những tổ chức dưới da tạo điều kiện cho hóa chất xuyên vào sợi da tốt hơn.

+ Máy xẻ, máy bào: có tác dụng điều chỉnh chiều dày tấm da đảm bảo độ dày đồng đều nhất định, giảm sự tiêu hao của một số hóa chất trong khi thuộc và làm tăng khả năng sử dụng của sản phẩm.

+ Foulons: giúp làm tăng quá trình xuyên thấu và kết hợp của hóa chất vào da tạo sự phân bổ đồng đều trên và trong toàn bộ tấm da.

+ Máy vò mềm: tạo cho da có độ xốp và độ mềm mại đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng khác nhau của khách hàng.

+ Máy in: dùng để trang trí bề mặt làm tăng tính thẩm mĩ của da thuộc sau khi hoàn thành.

Hy vọng qua bài viết các bạn có thể hiểu thêm về công nghệ thuộc da, chính sự cầu kì trong khâu xử lý đến lúc thành hình tạo nên sự sang trọng và độ "chất" của những sản phẩm da mà chúng ta đang sử dụng.

Các bài viết liên quan:

Ví da khắc tên - Qùa tặng ý nghĩa

Ví da khắc tên - Các mẫu ví da khắc tên phổ biến ( P.1 )

Ví da khắc tên - Các mẫu ví da khắc tên phổ biến ( P.2 )

Ví da nam và những vật cần thiết nên mang trong ví

Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên